RÚT ĐƠN KHỞI KIỆN RỒI CÓ KIỆN LẠI ĐƯỢC KHÔNG?

Trong khi thực hiện thủ tục khởi kiện tại Tòa án các vụ án dân sự, có một số trường hợp vì một số lý do nào đó như vì muốn họp gia đình, muốn bổ sung hồ sơ, tìm thêm chứng cứ,…mà người khởi kiện đã rút đơn khởi kiện lại. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp khi người khởi kiện rút hồ sơ khởi kiện thì đều được kiện lại và được Tòa án thụ lý giải quyết, mà theo pháp luật quy định thì chỉ trong một số trường hợp khi rút đơn khởi kiện đương sự mới được kiện lại. Cụ thể những trường hợp đó là gì, công ty Luật Nhân Hòa sẽ cung cấp cho quý vị theo nội dung dưới đây:

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ, thì có 10 trường hợp đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại:

1. . Tòa án đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện với lý do người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015).

Khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015:“ Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”

2. Tòa án đã bác (không chấp nhận) yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ.

3. Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

4. Tòa án đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không sữa chữa, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán do trong đơn khởi kiện người khởi kiện không ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (khoản 1 Điều 192 BLTTDS) hoặc Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện không cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP) nhưng nay người khởi kiện đã cung cấp được đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

5. Tòa án đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện hoặc những vụ án Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện nhưng nay người khởi kiện đã có đủ điều kiện khởi kiện. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó (Điều 187 BLTTDS năm 2015).

6. Những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn trong thời hạn là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, chỉ trong 10 trường hợp trên thì người khởi kiện mới được quyền kiện lại và được Tòa án thụ lý giải quyết lại từ đầu.

7. Tòa án đã bác (không chấp nhận) yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ.

8. Tòa án đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết và thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện đã hết.

Theo BLTTDS năm 2015: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

9. Những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do "thời hiệu khởi kiện đã hết" nhưng vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

10. Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, tiền tạm ứng chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản. (Điều 151 BLTTDS năm 2015)

Quý vị cần lưu ý và nắm rõ những trường hợp này để đảm bảo quyền lợi của mình trong quá trình tố tụng các vụ án dân sự tại Tòa án, để tránh trường hợp sau khi rút đơn khởi kiện rồi thì không thể nào kiện lại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là chia sẽ kiến thức của luật sư công ty Luật Nhân Hòa về các trường hợp đương sự được quyền nộp đơn kiện lại tại Tòa án, hy vọng sẽ cung cấp cho các bạn kiến thức hữu ích để bảo vệ được quyền lợi của mình, tránh những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra.

Quý vị có nhu cầu tư vấn pháp lý về dân sự, hôn nhân gia đình, tranh chấp thừa kế, đất đai, hợp đồng, hành chính, hành sự,…có thể liên hệ với luật sư theo thông tin sau:

CÔNG TY LUẬT NHÂN HÒA

Địa chỉ: 2 đường Hiệp Bình, p. Hiệp Bình Phước, Tp. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

Email: luatsunhanhoa@gmail.com

Hotline: 0915.27.05.27

Trân trọng!

 


Bài viết xem thêm